Mr.Tường Nguyễn

Ảnh N-T
Cùng Ban giám đốc Học viện QLGD
Chụp với bà Nguyễn Thị Nhất
Ảnh đẹp
ảnh
Anh Cuoi   Anh cuoi
Anh Cuoi   anh cuoi
Anh Cuoi   anh cuoi
Anh Cuoi   anh cuoi
Anh Cuoi   anh cuoi
Kinh nghiệm học

Các giai đoạn của hoạt động tự học của sinh viên

2/25/2013 10:31:42 AM
Phân tích hoạt động học tập của sinh viên, Nguyễn Văn Khải đã phân thành nhóm hoạt động tự lực (tự học) của con người như sau:

 

 

 



       - Tiếp thu bài giảng; theo dõi bài giảng, quan sát, ghi chép,…

- Thực hành; làm bài tập bộ môn, làm thí nghiệm, thâm nhập thực tế, thực tập, tóm tắt, tổng kết chương, phần của giáo trình, chuẩn bị tham gia hội thảo,…

- Thực hiện các nhiệm vụ kiểm tra, thi hết môn, bảo vệ niên luận và khóa luận tốt nghiệp, thi tốt nghiệp.

- Tổ chức tự học, tự rèn luyện.

 

Bốn nhóm hoạt động trên được khái quát trong sơ đồ sau:

 Giai đoạn 1: Người học phải thực hiện các hoạt động tự lực để tiếp thu bài giảng (theo lịch trình giảng dạy đã được quy định trong kế hoạch). Sinh viên phải nghe giảng để lĩnh hội những tri thức khoa học cơ bản rồi xây dựng bài giảng bằng những câu hỏi, câu trả lời trên cơ sở đối thoại trực tiếp với giảng viên và các bạn trong lớp.

Giai đoạn 2: Người học phải tự học để có thể tái hiện lại được những nội dung bài giảng đã được học rồi tự nghiên cứu các tài liệu có liên quan để chỉnh lí, bổ sung và ghi bài giảng và mở rộng đào sâu kiến thức.

Giai đoạn 3: Người học phải tự giải quyết các nhiệm vụ được giao đối với bài vừa học cũng như các bài sắp tới (chẳng hạn như đọc thêm sách để mở rộng kiến thức về những vấn đề đã học hay đọc và tìm các tài liệu có liên quan đến vấn đề sẽ học để nghiên cứu trước).

Giai đoạn 4: Người học không chỉ ôn tập kiến thức cũ mà còn phải tự làm việc với tài liệu giáo khoa, giáo trình, nghiên cứu trước nội dung bài mới (như tự lập hồ sưo bài học mới theo sự gợi ý của giảng viên).

Theo sư đồ trên thì mỗi bài học sinh viên được nghiên cứu 4 lần, với các mức độ khác nhau: tự lực nghiên cứu tài liệu mới (4); nắm nội dung bài giảng qua nghe giảng (1); tái hiện, đào sâu và chính xác hóa nội dung bài học (2); thực hành, vận dụng kiến thức (3).

Riêng việc tự học của mỗi sinh viên trong quá trình chiếm lĩnh tri thức qua 4 giai đoạn nói trên còn được thực hiện theo 5 bước như sau (theo quan điểm hợp tác):

 

Bước 1: Gia nhập nhóm và tiếp nhận nhiệm vụ. Mỗi sinh viên trong nhóm bao giờ cũng có vị trí, vai trò và nhiệm vụ nhất định. Hành động này của sinh viên bao gồm các thao tác sau:

- Tìm hiểu về nhóm mình theo sự phân công;

- Tiếp nhận nhiệm vụ chung của nhóm mà giáo viên giao cho;

- Tiếp nhận vai trò, nhiệm vụ của mình trong nhóm;

- Tiếp nhận nhiệm vụ cá nhân.

Bước 2: Tự nghiên cứu cá nhân. Học ở đại học là tự học, tự nghiên cứu. Sinh viên tự mình tìm ra những cách xử lý, giải quyết tình huống mà giáo viên giao theo trình tự sau:

- Tìm hiểu vấn đề và đề xuất nhiệm vụ:

+ Phân tích các dữ kiện của tình huống

+ Xác định các nhiệm vụ chủ yếu cần giải quyết

- Xây dựng giả thuyết:

+ Thu thập và xử lý thông tin có liên quan

+ Tái hiện lại khả năng, công thức, cách giải quyết vấn đề

+ Lựa chọn phương án giải quyết tối ưu nhất

- Chứng minh giả thuyết:

+ Dựa vào vốn tri thức có đêt xử lý

+ Đánh giá việc thực hiện

- Tổng kết, đánh giá kết quả nghiên cứu:

+ Kiểm tra lại kết quả nghiên cứu

+ Đánh giá và thử nghiệm các kết quả

+ Ghi lại kết quả và cách nghiên cứu

Bước 3: Hợp tác với các bạn trong nhóm. Trong hoạt động hợp tác với nhau trong nhóm, sinh viên phải thực hiện các thao tác sau:

- Mở đầu thảo luận:

+ Xác định rõ mục tiêu và nhiệm vụ thảo luận

+ Ghi một cách tóm tắt, khái quát những vấn đề sẽ phát biểu

- Trong thảo luận:

+ Trình bày, giới thiệu bằng văn bản về cách xử lý

+ Tích cực tham gia tranh luận

+ Khai thác những gì đã hợp tác với các bạn, sửa chữa, bổ sung, hoàn thiện sản phẩm ban đầu của mình.

- Rút kinh nghiệm về cách học, xử lý tình huống của mình.

Bước 4: Hợp tác với các bạn trong lớp. Sau khi thống nhất ý kiến với các bạn trong nhóm, tạo ra sản phẩm của nhóm, nhưng lại có sự mâu thuẫn giữa các nhóm đòi hỏi sinh viên phải hợp tác với các bạn trong lớp để đi đến sự thống nhất chung. Công việc ở bước này gồm các thao tác sau:

- Đại diện cho nhóm trình bày kết quả nghiên cứu;

- Tỏ thái độ của mình trước ý kiến của nhóm khác;

- Ghi lại ý kiến của nhóm khác theo cách hiểu của mình;

- Khai thác ý kiến của nhóm khác để bổ sung hoàn thiện sản phẩm của mình.

Bước 5: Hợp tác với giáo viên, tự kiểm tra, tự điều chỉnh. Qua kết luận của giáo viên, sinh viên tự kiểm tra, tự điều chỉnh kết quả của mình để đi đến giải quyết tốt bài học, sinh viên cần có những thao tác sau:

 

- So sánh, đối chiếu kết quả của giáo viên và ý kiến của các bạn với ý kiến nghiên cứu ban đầu của mình.

- Tổng hợp lý lẽ, chốt lại vấn đề.

- Tự sửa chữa, bổ sung, hoàn thiện kết quả ban đầu.

- Tự rút kinh nghiệm về cách học, cách xử lý tình huống.

- Chủ động hỏi giáo viên về những gì mà bản thân có nhu cầu. Vì theo G.Laphate “Nếu muốn thông minh bạn hãy học cách hỏi hợp lý, cách nghe chăm chú, cách trả lời thông minh và ngừng nói khi không còn gì nói nữa”.

- Tự ghi lại ý kiến của giáo viên trong giờ thảo luận.

- Học cách xử lý tình huống, cách phân tích, tổng hợp ý kiến của giáo viên.

Việc người học hợp tác với giáo viên để học hỏi, kiểm tra, đánh giá và điều chỉnh quá trình lĩnh hội tri thức của bản thân là cần thiết nên đó là trách nhiệm của cả thầy và trò. Một mặt trò phải tự giác trao đổi với giáo viên về những điều mình có nhu cầu khám phá, nhưng mặt khác giáo viên cũng phải có trách nhiệm khơi dậy ở người học lòng ham học hỏi và khám phá để hình thành nhu cầu học hỏi ở người học. Vì theo Honace Mann (1796 – 1859, Mỹ) “Một thầy giáo chỉ dạy mà không khơi lên ở học trò sự ham muốn học hỏi thì chỉ là đạp búa trên sắt nguội mà thôi”.

Việc làm việc hợp tác theo nhóm trong quá trình học tập, tự học, tự nghiên cứu của sinh viên cũng là một hình thức học tập đặc thù của sinh viên và đang ngày càng được sử dụng rộng rãi vì nó có nhiều ưu điểm. Dưới đây là một số hình thức học tập – thảo luận nhóm theo hướng “thảo luận phát triển”:

- Công não: làm bật ra nhiều ý tưởng về một vấn đề nêu ra, để sau đó bình luận, đánh giá.

- Trao đổi nhóm: trao đổi ngắn gọn trong nhiều nhóm nhỏ, tập trung vào một vấn đề nêu ra khi chia sẻ ý kiến trong nhóm lớn.

- Nghiên cứu trường hợp: đưa ra một trường hợp thực hoặc mô phỏng để sinh viên nghiên cứu, đề xuất giải pháp.

- Bể cá: một nhóm thảo luận được quan sát im lặng bởi một nhóm khác, sau đó đổi vai hoặc trao đổi chung.

- Kim tự tháp: vấn đề được thảo luận sơ bộ trong từng nhóm nhỏ để tạo ý tưởng ban đầu, sau đó được thảo luận sâu hơn bằng cách gộp 2 nhóm, 4 nhóm nhỏ...thành nhóm lớn hơn.

- Thảo luận nhóm khống chế: trong quá trình thảo luận sinh viên có thể đề ra những câu hỏi nhưng giáo viên điều khiển khống chế định hướng chung.

- Thảo luận nhóm tự do: các vấn đề thảo luận do chính sinh viên trong nhóm đề xuất chứ không phải do giáo viên.

- Làm việc theo cặp đôi; người học trao đổi với bạn ngồi kế bên để giải quyết tình huống do giáo viên đưa ra.

- Làm việc theo nhóm 4 – 5 người: giáo viên chia lớp thành nhiều nhóm, mỗi nhóm gồm 4 – 5 sinh viên và thảo luận các bài tập, câu hỏi, tình huống do giáo viên đưa ra (...).

- Ghép nhóm: giáo viên chia lớp thành nhiều nhóm (nhóm 1: 11111; nhóm 2: 22222; nhóm 3: 33333; nhóm 4: 44444; nhóm 5; 55555). Mỗi nhóm có nhiệm vụ giải quyết các vấn đề khác nhau của bài học, mỗi thành viên trong nhóm đều phải ghi chép. Sau đó, giáo viên tách các thành viên trong các nhóm để thành lập 5 nhóm mới, mỗi nhóm gồm 5 thành viên 12345 của các nhóm cũ. Các thành viên này trở thành “đại sứ” cho nhóm của mình trong nhóm mới. Họ phải thông báo nhiệm vụ và cách giải quyết nhiệm vụ của nhóm mình trong nhóm mới.

(...)./

Lược trích [108 – 114 ; Hoàng Anh - Đỗ Thị Châu (2009). Tự học của sinh viên. NXBGD]

Các tin khác